001-234-567-8910

5th Avenue Madson, NY758, USA

Get Update on our recent Gadgets & Tabs

Recent Comments

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

Tham dục

Hiếm khi cầu mong mà có được hạnh phúc – Marcel Proust
Không ai phản đối rằng ham muốn là điều tự nhiên và đóng vai trò là động cơ trong cuộc sống của chúng ta. Ở đây, không nên nhầm lẫn với những khát vọng sâu xa nảy sinh từ cuộc sống hàng ngày của người ta với tham dục chỉ như một cơn thèm khát, dằn vặt tâm trí. Thật vậy, tham dục có thể mang những hình thái vô cùng đa dạng: ta có thể thèm một cốc nước mát, một người ta yêu, một khoảnh khắc bình yên, hạnh phúc của tha nhân; ta cũng có thể muốn tự tiêu hủy mình. Tham dục có thể nuôi dưỡng cuộc sống của chúng ta, cũng có thể đầu độc nó.

Tham dục có thể phát triển, tự giải phóng và làm cho sâu sắc để trở thành một khát vọng. Khát vọng biến mình thành một con người tốt nhất, phụng sự cho phúc lạc của con người, hoặc vươn tới Giác ngộ tâm linh. Thực ra, cần phân biệt tham dục về bản chất là một sức mạnh mù quáng, với khát vọng bao giờ cũng có một động cơ và một thái độ đi trước nó. Nếu động cơ ấy rộng lớn và vì tha nhân, nó có thể trở thành một trong những suối nguồn lớn nhất tạo nên các phẩm chất của con người và là một trong những thành tựu lớn nhất. Còn khi bị hạn chế, ích kỷ, nó chỉ nhằm thỏa mãn những toan tính vô hạn của cuộc sống tầm thường, như những đợt sóng liên tiếp vỗ vào bờ cuộc đời từ lúc sinh ra tới khi nhắm mắt xuôi tay và không có chút bảo đảm nào cho ta được toại nguyện sâu sắc. Nếu tiêu cực, tham dục có thể đưa tới những hành động tàn phá, hủy diệt.
Dù mang tính tự nhiên, tham dục nhanh chóng biến chất để chuyển thành “độc tố của tâm thức” ngay khi nó trở nên gay gắt, ám ảnh hoặc chấp thủ một cách không thể kiểm soát được. Một lòng tham dục như vậy còn khiến ta thất vọng và điên rồ khi nó trở nên nguy hiểm đối với thực tại. Khi bị một vật hay một người ám ảnh, trong con mắt ta, vật đó hoặc người đó dứt khoát phải thuộc về ta, ta không thể không có chúng. Vậy mà tham là gốc của khổ. Hơn nữa, việc “sở hữu” ấy chỉ là bấp bênh, phù du và không ngừng bị đặt thành vấn đề. Nó cũng là ảo vọng, theo nghĩa rốt cục, ta rất ít quyền kiểm soát đối với những thứ mà ta tưởng đã bị chiếm hữu được. Như đức Phật Thích Ca Mầu Ni đã dạy: “Bị làm mồi của tham dục cũng giống như con khỉ trong rừng, bạn sẽ nhảy từ cành này sang cành kia mà không bao giờ tìm được trái cây, từ kiếp này sang kiếp khác mà không bao giờ tìm thấy sự bình yên”.
Tham muốn có những mức độ khác nhau về thời gian và cường độ. Một ý muốn nhỏ, như muốn một tách trà hoặc một vòi tắm nóng thường dễ được thỏa mãn và chỉ bị ngăn trở trong những điều kiện cực kỳ rủi ro mà thôi. Cũng có ý muốn đỗ đạt trong thi cử, mua cho mình một chiếc xe hơi, hoặc một căn hộ. Thực hiện chúng có thể gặp một vài khó khăn thường vượt qua được nếu ta kiên trì và sáng tạo. Cuối cùng là có mức độ ham muốn cơ bản hơn như muốn lập gia đình, muốn được hạnh phúc với người bạn đời mình đã chọn, muốn là một nghề mình yêu thích. Thực hiện những ham muốn loại đó cần rất nhiều thời gian, và kết quả của nó phụ thuộc vào những khát vọng sâu xa của chúng ta, vào phương hướng mà ta mong muốn cho cuộc đời mình: ta có muốn hành động để nuôi dưỡng niềm vui sống hay không? Hoặc đơn giản chỉ để “kiếm tiền” và có một vai vế nào đó trong xã hội? Ta xác định quan hệ vợ chồng theo kiểu sở hữu hay yêu thương lẫn nhau với lòng vị tha? Dù chọn cách nào đi nữa, ở đâu và bao giờ cũng vậy, ta vẫn thấy tính nổi trội của lòng ham muốn, mong cầu.
Ngày nay, báo chí, điện ảnh, văn học và quảng cáo không ngừng tác động tới lòng ham muốn. Nó khiến ta lệ thuộc vào những cảm xúc mạnh để rồi chỉ đưa ta tới những mãn nguyện ngắn ngủi. Vả lại, ta không còn thời gian để thấy nó làm ta thất vọng đến mức nào, vì bao nhiêu những mong cầu khác lại xuất hiện; với tâm trạng lơ đễnh, ta không ngừng gác lại việc xem xét và thực hiện những gì có thể mang lại cho mình một cảm giác an lạc viên mãn xứng đáng với tên gọi của nó. Và cuộc sống cứ tiếp tục như vậy.
Tôi quen mấy kẻ hãnh tiến ở thị trường chứng khoán Hồng Kông. Họ quấn mình trong chăn ngủ luôn dưới sàn tại công sở để có thể vùng dậy lúc nửa đêm và lao vào máy tính, “chộp” lấy thị trường chứng khoán New York trước giờ đóng cửa. Họ cũng tìm cách để được hạnh phúc, nhưng không mấy thành công. Một người trong số họ kể với tôi rằng, mỗi năm anh ta đi nghỉ một hoặc hai lần. Sáng sớm, anh chỉ mặc mỗi chiếc quần soóc ngồi ngắm cảnh bên bờ biển. Anh gần như ngỡ ngàng nhận ra vẻ đẹp của đại dương. Và anh không thể nghĩ: “Cuộc sống của mình thật là kỳ cục! Vậy mà sáng thứ Hai này, mình lại lao vào guồng máy như cũ”. Anh ta thiếu ý thức về những ưu tiên trong đời ư? Hay thiếu can đảm? Dừng lại trên bề mặt lóa mắt của những lừa phỉnh mà không chịu bỏ thêm một chút thời gian để tìm câu trả lời tự đáy lòng cho câu hỏi: “Mình thật sự muốn làm gì với cuộc đời mình đây?” Một khi đã tìm ra câu trả lời bao giờ ta cũng tìm được thời gian để thực hiện nó. Song không đáng buồn sao khi không dành cơ hội cho câu hỏi kia xuất hiện?
Nô lệ của tham dục
Đạo Phật không chủ trương diệt bỏ những ý muốn giản đơn, cũng như những khao khát cơ bản. Đạo này chủ trương thoát khỏi những tham dục biến con người thành nô lệ cho chúng, kéo theo bao khổ đau dằn vặt vô bổ. Ước ao được ăn khi đói, ước vọng được phụng sự cho hòa bình thế giới, ham muốn hiểu biết, ước ao được chia sẻ cuộc đời với những người thân yêu, hăm hở thôi thúc ta vượt qua khổ đau … Trong chừng mực mà những ham muốn kia không mang sắc màu của lòng tham và không đòi hỏi nắm giữ cái không thể nắm bắt được, chúng có thể góp phần làm chúng ta mãn nguyện sâu sắc. Trái lại, tham dục là không thỏa mãn được. Có một thứ rồi, lại muốn có cái thứ hai, rồi thứ ba và cứ tiếp tục như vậy. Làm sao lòng tham kia có đáy được? Chỉ có thất bại và mệt mỏi mới đôi khi làm hết cơn khát sở hữu, cảm giác và quyền lực mà thôi.
Cơ chế của tham dục
Thèm muốn các cảm giác dễ chịu luôn dễ dàng xuất hiện trong tâm, bởi vì thú vui bao giờ cung đon đả hấp dẫn và chào mời. Nó làm ta xiêu lòng, tin tưởng và quét sạch mọi băn khoăn bằng vài hình ảnh đầy thuyết phục: chúng ta phải lo ngại gì kia chứ trước một lời mời chào cám dỗ đến thế? Đi vào con đường ham muốn thậm chí rất dễ dàng. Song những bước chân nhanh nhẹn ban đầu sẽ nhanh chóng qua đi nhường cho nỗi thất vọng về những mong chờ ngớ ngẩn và cảm giác cô đơn khi đã bão hòa về nhục dục. Một khi đã nếm phải, những khoái cảm không còn đọng lại, không tích tụ thêm, không tự bảo tồn và không sinh sôi nảy nở. Chúng tan biến dần dần. Như vậy, thật không thực tế khi hi vọng rằng một ngày nào đó, chúng sẽ mang lại cho ta một niềm hạnh phúc lâu dài.
Schophenhauer, một người nổi tiếng là bi quan, đã tuyên bố: “Mọi ham muốn sinh ra từ thiếu thốn, từ một trạng thái không làm ta toại nguyện; vì thế, ham muốn là đau khổ chừng nào còn chưa được thỏa mãn. Vậy mà không có sự thỏa mãn nào kéo dài; nó chỉ là điểm khởi đầu của một mong muốn mới. Chúng ta thấy mong muốn bị ngăn chặn ở mọi nơi, phải tranh đấu ở mọi nơi, và vì thế, bao giờ nó cũng nằm trong tình trạng khổ đau; cố gắng đến mấy cũng không đủ, cũng không có chừng mực, và vì thế không bao giờ hết khổ”. Câu khẳng định này đúng, nhưng chưa đủ. Thật vậy, nó giả định rằng con người không thể thoát khỏi lòng mong cầu và khổ đau do nó duy trì. Muốn thoát, cần phải bắt đầu bằng việc hiểu xem nó khởi lên như thế nào.
Nhận xét đầu tiên là luôn luôn có một hình ảnh trong tâm thức xuất hiện trước khi nảy sinh bất kỳ niềm say mê nào (ở đây chúng ta không nói tới những cảm giác sơ đẳng như đói hoặc khát). Hình ảnh này được khởi lên dưới tác động của một số yếu tố ở bên ngoài như một hình dáng, một âm thanh, một xúc chạm, một mùi hương hoặc một vị; hay ở bên trong như một kỷ niệm hoặc một ảo ảnh.
Dù ta bị ảnh hưởng bởi những khuynh hướng tiềm tàng, ngay cả tham dục – trong đó tình dục đứng đầu – đã nằm trong cấu tạo sinh lý của chúng ta, nó không thể biểu hiện mà không có hình ảnh trong tâm thức. Hình ảnh này có thể nảy sinh theo ý muốn, hoặc tự nó áp đặt trong tâm. Nó hình thành từ từ hoặc nhanh như chớp, một cách lén lút hoặc công khai, nhưng bao giờ cũng đi trước tham dục, bởi vì đối tượng của nó phải được phản chiếu trong những suy nghĩ của chúng ta. Ta chỉ có thể mong muốn và duy trì một cảm giác chừng nào ta còn thấy nó dễ chịu. Hiểu rõ tiến trình này khiến chúng ta có khả năng kiểm soát diễn biến của quá trình đối thoại nội tâm do tham dục gây ra.
Quan điểm này của đạo Phật gần gũi với những quan điểm của các ngành khoa học về nhận thức. Theo Aaron Beck, một trong những người sáng lập ra ngành nhận thức trị liệu, những cảm xúc bao giờ cũng do nhận thức gây ra chứ không phải ngược lại. Nghĩ tới một người hấp dẫn sẽ khiến ta ước ao, nghĩ về một mối hiểm họa sẽ tạo ra cảm giác sợ hãi, nghĩ đến mất mát sẽ làm ta thấy buồn bã và nghĩ rằng giới hạn đã bị vi phạm khiến ta nổi giận. Khi cảm nhận được một trong những cảm xúc trên, ta sẽ không mấy khó khăn xác định ra căn nguyên của chuỗi suy nghĩ đã đưa tới cảm xúc đó.
Theo Seligman: “Cách đây 30 năm, ngành tâm lý nhận thức đã làm được một cuộc cách mạng lật đổ cả Freud và những người theo chủ nghĩa hành vi, ít ra là trong các giới kinh viện […]. Thật vậy, theo lý thuyết cổ điển của Freud, chính các cảm xúc quy định nội dung suy nghĩ”. Quan điểm này có thể chính xác trong các trường hợp khủng hoảng tâm lý (những trường hợp này thoạt nhìn tưởng như vô lý), khủng hoảng lo âu mãn tính, khủng hoảng do sợ hãi nặng nề, chúng là sự thể hiện của những hình ảnh được tạo thành trong quá khứ. Tuy vậy, những khuynh hướng trên có được là nhờ quá trình con người tích tụ những hình ảnh và suy nghĩ.
Nói chung, ngay khi khởi lên trong tâm, những hình ảnh tâm thức gắn với một ham muốn và con người tìm cách thỏa mãn hoặc đè nén nó. Trong trường hợp đầu, quyền làm chủ bản thân bị bỏ rơi; còn trong trường hợp sau, xung đột nổ ra. Đè nén gây ra xung đột nội tâm luôn luôn là nguồn gốc gây khổ. Trái lại, chọn cách thỏa mãn tức là tự nhủ: “Phức tạp quá làm gì? Hãy thỏa mãn lòng mong ước của chúng ta và thế là xong chuyện”. Vấn đề là toại nguyện chỉ mang tính chất tạm thời. Những hình ảnh tâm thức mà lòng tham dục không ngừng tạo ra lại tái xuất hiện rất nhanh. Càng thỏa mãn nó, những hình ảnh kia xuất hiện ngày càng nhiều, choáng hết cả tâm trí và trở nên trói buộc chúng ta. Như vậy, chúng ta đã làm phát khởi cơ chế tự đốt cháy tham vọng: càng uống mặn, ta càng khát. Sự lặp đi lặp lại liên tục các hình ảnh trong tâm thức dẫn tới thói quen và sự phụ thuộc cả về thể chất lẫn tinh thần. Ở điểm này, trải nghiệm về tham dục được cảm nhận giống như một trạng thái phụ thuộc hơn là mãn nguyện. Chúng ta đã bị mất tự do.
Một ví dụ dễ hiểu hơn là khi ta bị ngứa. Theo bản năng, ta gãi cho đỡ ngữa. Chắc chắn là ta dễ chịu ngay lúc gãi, nhưng chỉ một lát thôi, các ngứa còn tăng hơn bao giờ hết và rút cục, ta gãi tới bật máu. Người ta lẫn lộn giữa làm cho nhẹ đi và chữa khỏi. Khi ta quyết định không gãi nữa, mặc dù đang rất muốn gãi, không phải bởi vì gãi là “xấu”, mà bởi vì ta đã có kinh nghiệm rằng làm chảy máu là khó chịu và mặc cho cơn ngứa dịu đi, ta sẽ không phải hứng chịu đau đớn.
Như vậy, ở đây không phải là một sự đè nén có hại, cũng không phải là vấn đề phong tục tập quán, mà là một hành động thông minh, cho thấy con người đã ưa lựa chọn trạng thái an lạc lâu dài hơn trạng thái xen lẫn giữa dễ chịu và đau đớn. Đó là một phương pháp thực dụng dựa trên cơ sở phân tích và qua thực tế. Ngài Long Thọ (Nagarjuna), triết gia Phật giáo Ấn Độ ở thế kỷ thứ hai, đã tóm tắt tiến trình trên như sau: “Gái lúc ngứa thì tốt, nhưng không ngứa nữa mới hạnh phúc làm sao! Thỏa mãn dục vọng là tốt, song hạnh phúc còn lớn biết chừng nào khi được giải phóng khỏi mọi dục vọng”. Cản trở lớn nhất của sự tự do này chính là thái độ chống cự của con người trước mọi hình thức thay đổi nội tâm đòi hỏi phải nỗ lực. Người ta vẫn thích nói thẳng ra rằng: “Thà để tôi gãi luôn còn hơn”.
Chúng ta có thể trở nên quan tâm hơn đối với cách thức hình thành những hình ảnh trong tâm thức, hiểu biết và làm chủ được sự tiến triển của chúng. Sự đè nén hoặc thỏa mãn chỉ được tiến hành khi dục vọng lên cao tới mức có nguy cơ biến thành hành động. Song nếu các hình ảnh trong tâm thức tự hình thành và tự biến đi thì không có gia tăng cường độ hay đè nén. Khi sức mạnh của các hình ảnh trong tâm suy giảm, ta sẽ không còn bị phụ thuộc vào tham dục nữa, và tình trạng đó được giữ vững trong một thời gian dài, không cần đến sự kìm hãm nào cả. Một vài hình ảnh vẫn còn khởi lên, nhưng đó chỉ là những tia yếu ớt thoáng qua trong không gian tâm thức.
Từ tham dục tới sự ám ảnh
Dục vọng ám ảnh thường kèm theo đam mê, có tác động tiêu cực đến tình cảm quý mến, thương yêu, niềm vui đón nhận và chia sẻ cuộc đời với người khác. Nó ngược lại với tình yêu vị tha bởi vì nó là thói vị ngã bệnh hoạn, chỉ biết yêu thương bản thân mình, hoặc tồi tệ hơn, tìm cách xây dựng hạnh phúc của mình trên khổ đau của người kia. Kiểu dục vọng này chỉ muốn sở hữu và kiểm soát những người, những vật và những trường hợp mà nó cho là hấp dẫn. Nó cho rằng lòng tham dục là một thuộc tính của một người cụ thể nào đó mà đối với người này, nó thổi phồng cái hay và xem nhẹ điều dở. Anatole France đã lưu ý: “Dục vọng đậu đôi cánh lửa của mình vào vật nào thì vật đó liền đẹp hơn lên”.
Say mê lãng mạn chính là một ví dụ của kiểu mù quáng này: “Một tình yêu mạnh mẽ, độc đoán và ám ảnh. Một loại tình cảm khốc liệt, làm ảnh hưởng xấu tới sự xét đoán” như từ điển Petit Robert định nghĩa. Được nuôi dưỡng bằng những tưởng tượng phóng đại và những ảo vọng, tham dục bướng bỉnh muốn rằng vạn vật phải khác với bản chất của chúng. Giống như một ảo ảnh, đối tượng được lý tưởng hóa của nó là cái gì đó không thể nắm bắt được và bản chất là làm cho người ta thất vọng.
Stendhal chẳng đã nói: “Đam mê có thể đem ra so sánh với xổ số: đó là trò bịp hiển nhiên và một thứ hạnh phúc mà những kẻ điên rồ tìm kiếm”. Chúng ta không ngạc nhiên khi Đức Dalai Lama xem tình yêu lãng mạn là “không thực tế lắm”, và Ngài nói thêm: “Đó đơn thuần là ảo tưởng, không xứng đáng với những nỗ lực mà người ta dành cho nó”. Một số người khác nói mạnh hơn, như Christian Boiron chẳng hạn, cho rằng: “Tình yêu lãng mạn với đoàn tùy tùng của nó là say mê (đấu tranh), buồn bã (ức chế), thậm chí ghen tuông (chạy trốn) hoàn toàn nằm trong lĩnh vực bệnh lý”.
Còn thèm muốn tình dục thì sao? Boiron giả định rằng “sự hấp dẫn về tính dục không có tính chất bệnh lý, cũng không phải là một cảm xúc, mà chỉ là biểu hiện một ý muốn bình thường, như đói hay khát”. Nhưng cũng chính say mê tình dục đã đánh thức những cảm xúc mãnh liệt nhất trong chúng ta, bởi vì nó lấy sức mạnh từ năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) bị tác động cùng một lúc bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc chạm. Khi không có tự do nội tâm, mọi trải nghiệm mạnh mẽ của các giác quan đều gây ra hàng loạt những bám chấp và bao giờ cũng trói buộc chúng ta hơn nữa. Tựa như một chỗ nước xoáy nhỏ trên dòng suối vậy: ta không chú ý gì tới nó và nghĩ rằng có thể dễ dàng bơi qua, song khi dòng xoáy dữ dội hơn, ta sẽ bị nó hút vào không cách gì cứu vãn nổi. Người biết giữ gìn tự do nội tâm trọn vẹn thì cảm nhận được tất cả những cảm giác đó ngay trong giây phút hiện tại, trong niềm an lạc của một tâm thức đã vượt lên mọi chấp thủ và mong đợi.
Sự gay gắt của cường độ và tần số những hình ảnh trong tâm thức gây ra dục vọng ám ảnh. Như một đĩa nhạc bị lỗi, nó lặp đi lặp lại không biết chán cùng một điệp khúc. Đó là sự tập trung của vũ trụ tâm thức, làm mất đi tính uyển chuyển, linh hoạt khiến tự do nội tâm bị đông cứng lại. Mỗi thành phần trong vũ trụ của chúng ta đều trở thành đau khổ, mỗi khoảnh khắc sống tựa như bị dằn vặt, đớn đau, mỗi sự kiện đều khiến các xung đột gay gắt hơn và thắt chặt thêm những gông cùm trói buộc chúng ta.
Alain tuyên bố: “Thay vì ngủ, cậu si tình bị bạc đãi quằn quại trên giường, suy tính cách trả thù tàn bạo. Anh ta còn biết làm gì khác nữa trong nỗi đau khổ nếu không nghĩ về quá khứ cũng như về tương lai? Cái anh chàng đầy tham vọng đang phải nếm mùi thất tình này biết tìm ở đâu nỗi đau của mình, nếu không phải là trong quá khứ mà anh ta làm cho sống lại, hoặc trong tương lai mà anh ta tưởng tượng ra”.
Những ám ảnh đó trở nên rất đau đớn khi không được thỏa mãn và được củng cố thêm trong trường hợp ngược lại. Vì vậy, vũ trụ ám ảnh là một thế giới trong đó những tâm trạng thúc bách xen lẫn các trạng thái bất lực. Chúng ta bị rơi vào những khuynh hướng và những xung năng chằng chịt, khiến cho ta bị ám ảnh, làm cho ta đau đớn. Một trong những tính chất khác của ám ảnh là sự bất mãn cùng cực do nó gây ra. Nó không biết tới niềm vui, càng không biết gì về trạng thái an lạc.
Điều đó không thể khác được, bởi vì nạn nhân của sự ám ảnh cố tìm cách để thỏa mãn trong những tình huống chính là nguyên nhân gây ra khổ đau cho mình. Kẻ nghiện hút càng ngày càng phụ thuộc, kẻ say xỉn tới mức mê sảng, kẻ thất tình ngắm ảnh người yêu từ sáng đến tối, kẻ ghen tuông nghiền ngẫm những tình huống khiến hắn giận hơn. Ám ảnh gây ra một tình trạng đau khổ triền miên và lo âu, trong đó pha trộn cả ham muốn và chán chường, bất mãn và mệt mỏi. Nó khiến con người “bám chặt” vào những nguyên nhân gây khổ.
Đáng lưu ý là theo các công trình nghiên cứu não bộ, không phải lúc nào cũng chỉ có những vùng não và những đường dây thần kinh nhất định nào đó làm việc khi ta cảm thấy “nhu cầu” hoặc “yêu” một cái gì đó. Điều này giải thích vì sao khi đã quen với một số dục vọng nào đó, ta có thể trở nên bị phụ thuộc: ta lại tiếp tục có nhu cầu thỏa mãn chúng ngay cả khi không còn thích cảm giác đó nữa. Và thế là ta đi tới chỗ không yêu thích mà vẫn muốn. Tuy nhiên, người ta vẫn thích thoát khỏi sự ám ảnh bởi vì nó gây khó chịu khi bắt con người vẫn phải muốn cái đã không còn làm mình thỏa mãn nữa. Cũng vì những lý do đó, người ta cũng có thể yêu thích một vật gì, hoặc một ai đó, nhưng không phải vì thế mà cảm thấy thèm muốn.
Phân biệt giữa nhu cầu và hạnh phúc được minh họa một cách phóng đại bằng cách bẫy chó sói của những thổ dân Bắc cực. Họ cắm phập dao vào trong tuyết để phần lưỡi dao rất sắc nhô lên. Khi chó sói bắt đầu liếm lưỡi dao, lưới chúng bị đứt và máu chảy ra. Càng liếm, chúng càng mất máu nhiều hơn cho tới chết.
Theo mạch tư tưởng trên, các nhà nghiên cứu khoa học đã cấy những điện cực vào những vùng gây hưng phấn trên não chuột. Các chú chuột có thể chạm vào một cái cần để kích vào điện cực. Cảm giác thích thú mạnh đến mức, rất nhanh chóng, chúng bỏ mọi hoạt động khác, kể cả ăn uống và tính dục. Đi tìm cảm giác kia đã trở thành cơn khát không sao dịu đi được, thành một nhu cầu không thể kiểm soát nổi, và lũ chuột cứ nhấn vào chiếc cần kích điện cho tới lúc kiệt sức và chết.
Dục vọng, tình yêu và sự bám chấp
Làm thế nào để phân biệt được tình yêu đích thực với sự gắn bó mang tính sở hữu? Tình yêu vị tha có thể được so sánh với tiếng vang trong trẻo của một chiếc ly bằng pha lê, còn chấp thủ lại như ngón tay đặt lên miệng ly và làm tắt ngấm tiếng vang đó. Phải thừa nhận rằng khái niệm yêu mà lại không bám chấp là một quan niệm khá xa lạ đối với tâm tính của người phương Tây. Không gắn bó không có nghĩa là yêu người kia ít đi, mà có nghĩa là về cơ bản, ta không bị bận tâm tới tính vị ngã thông qua cái mà ta cho là mối tình hiến tặng người kia.
Tình yêu tha nhân là niềm vui được chia sẻ cuộc sống với những người xung quanh ta, với bạn bè, vợ chồng, người thân và khiến họ hạnh phúc. Ta yêu họ vì họ là như vậy, chứ không phải thông qua lăng kính méo mó của tính vị ngã. Thay vì gắn bó với người kia, chúng ta có liên quan tới hạnh phúc của họ; lẽ ra muốn sở hữu người kia, chúng ta cảm thấy có trách nhiệm về sự bình yên của họ; lẽ ra lo âu chờ đợi người kia ban phát cho điều gì, chúng ta vui vẻ đón nhận tình yêu thương lẫn nhau nơi họ.
Rồi dần dần, chúng ta cố trải rộng hơn nữa tình yêu thương đó. Cần phải có khả năng yêu thương tất cả mọi chúng sinh, không điều kiện. Đòi hỏi yêu thương kẻ thù có phải là điều quá đáng không? Điều này dường như là việc không thể làm được. Tuy thế, nó được đặt cơ sở trên một nhận xét rất giản đơn: tất cả mọi người, không trừ ai, đều mong muốn tránh khổ đau và được hạnh phúc. Tình yêu tha nhân đích thực là mong muốn biến ước mong ấy thành hiện thực. Nếu yêu thương người khác lại chỉ phụ thuộc vào cách họ đối xử với mình thì không thể yêu thương được kẻ thù. Tuy thế, ta vẫn có thể mong cho kẻ thù của mình hết khổ đau và được hạnh phúc.
Làm cách nào để hài hòa giữa tình thương yêu vô điều kiện, không phân biệt nói trên và những mối quan hệ ưu tiên với một số người trong cuộc sống? Hãy lấy mặt trời làm ví dụ! Vầng dương tỏa sáng đều xuống muôn loài với cùng một độ sáng, cùng một nhiệt lượng và về mọi hướng. Tuy thế, vì nhiều lý do khác nhau, có những người ở gần mặt trời hơn và nhận được nhiều hơi ấm hơn. Song không một lúc nào, hoàn cảnh ưu tiên ấy lại loại trừ điều gì. Mặc dù mọi so sánh đều có giới hạn, chúng ta vẫn cho rằng có thể làm nảy sinh trong mình một lòng nhân hậu cao thượng đến mức có thể xem tất cả mọi người như cha, mẹ, anh, chị, em hay như con cái của mình. Ở Nepal chẳng hạn, người ta gọi tất cả những người phụ nữ hơn tuổi mình là “chị” và những người ít tuổi hơn mình là “em”. Một tấm lòng nhân ái rộng mở, vị tha và quan tâm đến người khác như thế chỉ có thể làm tăng tình yêu thương dành cho những người thân của mình, làm tình cảm đó sâu sắc hơn, đẹp hơn lên.
Tất nhiên cũng cần phải thực tế: chúng ta không thể biểu hiện một cách cụ thể và như nhau tình cảm và tình yêu của mình với tất cả mọi người. Đối với một số người, chúng ta yêu thương nhiều hơn so với những người khác. Nhưng không phải vì có mối quan hệ đặc biết với bạn đời của mình mà phải đặt giới hạn cho tình yêu thương và mối đồng cảm mà chúng ta có thể dành cho tất cả mọi người. Như thế, giới hạn ấy là một sự bám chấp và sẽ gây tai hại vì nó hạn chế phạm vi bao la của tình thương đồng loại. Mặt trời không còn tỏa chiếu xuống mọi hướng nữa mà chỉ còn một luồng ánh sáng nhỏ nhoi.
Chấp thủ là nguồn gốc của khổ đau, bởi vì tình yêu ích kỷ không ngừng bị vấp phải những rào cản mà chính nó dựng lên. Thực ra, ham muốn sở hữu và độc quyền, ám ảnh và ghen tuông chỉ có nghĩa trong vũ trụ khép kín của chấp thủ mà thôi. Tình yêu thương tha nhân là cách thể hiện cao nhất bản chất của con người chừng nào bản chất này chưa bị ô nhiễm, tối tăm và méo mó vì những thủ đoạn của bản ngã. Tình yêu tha nhân mở cánh cửa đi vào nội tâm, không còn để chỗ cho vị kỷ và sợ hãi, nó giúp chúng ta hoan hỷ khi cho và biết ơn khi nhận.

Nghi ngờ

Thực tại kỳ bí
Thật khó để tin rằng những gì chúng ta thấy trong giây phút hiện tại đều không đúng như chính đối tượng ấy đang là. Đó là lời cảnh báo của khoa học. Chúng ta có đức tin rất lớn nơi những thành tựu khoa học, nhưng khoa học vẫn tự nhận mình còn rất nhiều hạn chế, nhất là sự hoang mang đến khủng hoảng về bản thể học (ontology) của thế giới chúng ta. Khoa học chưa biết một cách chính xác bản chất của mọi hiện tượng thực ra là gì, chúng hội tụ đủ những điều kiện nào để biểu hiện.
Immanuel Kant, triết gia người Đức, đã phát biểu: “Cái mà chúng ta biết về thực tại là do chúng hiện lên đúng như trình độ mà chúng ta thấy về nó. Thực tại là chính nó, chúng ta không bao giờ biết được với tính chất của hiểu biết khoa học”. David Bohm, một nhà lượng tử xuất sắc của Mỹ, cũng đồng thuận ý kiến trên và bổ sung rằng: “Các hạt điện tử mà chúng ta (các nhà khoa học nhìn thấy chợt ẩn chợt hiện và thay đổi cấu trúc liên tục, là do chúng bị điều khiển bởi trường lượng tử (quantum potential)”. Theo đây thì trường lượng tử của David Bohm phải có chứa tâm thức, không bị giới hạn bởi không gian và tác động lên nhau tức thì.
Như vậy, những gì mà ta cho là đúng đắn thì chúng chỉ có giá trị tương đối trong nhận thức của con người mà thôi. Và cái đúng ấy lại bị giới hạn thêm một lần nữa bởi trình độ mỗi người và cả sự biến dịch của thời gian. Vì thực tại luôn vận động và liên kết, còn ta lại chủ trương cố định và biệt lập. Cũng như hiểu biết của ta về dòng sông chắc chắn khác xa với hiểu biết của con cá. Và một người đang “khát cháy” nhìn dòng sông cũng không giống với một người đang ngồi trên du thuyền, hay một người muốn kinh doanh thủy điện.
Thi sĩ nào đó đã cho rằng: “Chỉ có dòng sông mới hiểu được mình“. Nhưng cũng chưa chắc. Chính ta đây cũng đâu hiểu về mình bao nhiêu. Lúc thương ta thấy khác, lúc ghét ta thấy khác, lúc vui ta thấy khác, lúc buồn ta thấy khác. Cái thấy của một nghệ sĩ tất nhiên rất khác với cái thấy của một doanh nhân; cái thấy của một nhà tâm linh cũng rất khác với cái thấy của một nhà chính trị. Vậy đâu mới là cái thấy đúng đắn nhất? Không có cái thấy nào đúng đắn nhất cả. Sống giữa thế giới tương đối thì ta phải chấp nhận cái thấy tương đối. Đó cũng là lý do tại sao ta chỉ có được hạnh phúc tương đối – thứ hạnh phúc luôn bị điều kiện hóa. Chỉ khi nào ta có khả năng vượt thoát chính phiền não được bảo vệ bởi cái tôi hiểu lầm là biệt lập này, để chấp nhận vạn vật trên khắp vũ trụ đều là thân mạng của mình, thì chừng ấy ta mới có được tầm nhận thức siêu việt và đúng với thực tại.
Nhưng nhìn đúng bản chất thực tại để làm gì? Đó có phải là vấn đề viển vông hay công việc riêng của khoa học không? Không. Mục đích của khoa học cũng nhằm phục vụ cho hiểu biết của con người, giúp cho con người ngày càng tiến gần hơn với sự vận hành của vũ trụ. Dù ta đang quá bận rộn với cuộc sống, ta không có ý muốn tìm hiểu bản thể học của thế giới này làm gì, nhưng sự thật là chính ta và mọi thứ xung quanh ta đều nằm trong quỹ đạo của nhân quả và duyên sinh vô cùng kỳ bí ấy. Nên càng ít hiểu biết về chân lý ta càng phí tổn năng lực để tranh đấu cho những thứ vận hành trái nghịch với tự nhiên. Càng trái nghịch với tự nhiên sẽ càng mau chóng tàn hoại. Đó là cội nguồn của mọi đau khổ.
Ấy vậy mà ta luôn tự cho mình là tài giỏi, đã hiểu biết tất cả, có thể nắm tương lai và hạnh phúc trong bàn tay. Có được bằng tiến sĩ thì sao? Kiến thức ấy có thể giúp ta biết cơn giận dữ từ đâu tới và được điều khiển bởi những nguồn lực nào không? Những hiểu biết về thế giới nội tâm của ta có phải là vấn đề phi thực tế không? Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất đời sống của ta không? Hy sinh chừng ấy năm trời chỉ để nắm bắt những thứ còn nằm trong sự may rủi của hoàn cảnh thì chẳng oan ức lắm sao? Oan ức hơn nữa là sống giữa cái giả mà ta ngờ là thật, hay sống giữa cái thật mà ta cứ nghĩ là giả.
Từ chối sự thật
Truyện cổ Phật giáo Ấn Độ có kể một câu chuyện rất thương tâm. Có một người thương buôn nọ rất giàu có, nhưng vợ chết sớm và để lại cho ông một đứa con trai. Vì bận rộn việc mua bán ở phương xa, nên ông đành phải nhờ những người làm trong nhà chăm sóc con mình. Một hôm bọn cướp ập tới đốt phá làng, khiến nhiều người mất mạng trong trận hỏa hoạn ấy. Biết con trai mình cũng kẹt trong đám cháy, vị thương buôn ấy đã ngất đi. Sau khi hỏa tán xong, ông ấy lấy chút xương tro của đứa con bỏ vào trong túi gấm. Đi đâu ông cũng mang theo bên người, đêm nào cũng lấy ra kể lể than khóc.
Bỗng đêm kia, bên ngoài có tiếng đứa bé xưng là con của ông. Nhưng ông lại nghĩ đó là ma hay bọn con nít trong làng đến chọc phá, nên kiên quyết không mở cửa. Thật ra, đứa con ông chỉ bị bọn cướp bắt về rừng, còn đứa bé bị cháy đen mà ông đã thương khóc là một đứa bé khác trong làng. Nhưng mãi mãi ông không bao giờ biết được sự thật ấy khi sự nghi ngờ và cố chấp trong ông đã đóng bít cửa trái tim và đẩy đứa con của mình ra đi trong tuyệt vọng.
Cuộc sống luôn có những câu chuyện từa tựa như thế. Có khi chân lý đã đến gõ cửa rồi mà ta cũng không chịu mở cửa. Bởi ta vẫn tin chắc những nhận định của mình là hoàn toàn đúng đắn. Đó là thái độ cố chấp, bám chặt vào những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy cũ kỹ để nhìn vào thực tại mới mẻ. Trong chừng mực nào đó, dĩ nhiên, kiến thức và kinh nghiệm tích lũy là thứ tài sản quý báu của con người. Nhưng nếu ta không biết sử dụng nó một cách đúng đắn và hợp lý, thì nó sẽ trở thành những bức tường vĩ đại định kiến và thành kiến để ngăn cách ta với sự thật. Trong khi mọi sự mọi vật không ngừng vận động và biến đổi. Dù nhìn tướng trạng bên ngoài ta thấy không có gì khác so với trước kia, nhưng thật sự là chúng đã không còn y nguyên như tất cả những gì ta hiểu về chúng.
Cho nên, bám chặt vào hiểu biết của mình mà không dám mở lòng ra để khám phá và học hỏi thêm, tức là ta đã tự đào thải mình ra khỏi sự vận hành tự nhiên của cuộc sống. Tuy ta đang có mặt với thực tại, nhưng ta đã đánh mất thực tại.
Bóng tối nghi ngờ
Khi không hiểu được sự thật thì ta dễ phát sinh thái độ nghi ngờ như một loại phản ứng bảo vệ cái tôi ích kỉ của mình. Bởi hầu hết những nghi ngờ của ta đều cho rằng người kia có thể là kẻ xấu, chứ ít khi nào ta nghi ngờ ngược lại. Trong khi bản chất của sự nghi ngờ chỉ là thái độ thắc mắc, suy đoán, hay thử đặt ra những giả thuyết khác có thể xảy ra. Nếu đó cũng là cơ hội tốt để ta bắt tay vào công trình khám phá thêm sự thật về đối tượng ấy. Nhưng thói quen “kinh điển” của ta là khi nghi ngờ điều gì thì hầu như ta tin chắc đó là sự thật, không muốn tìm hiểu hay khám phá thêm nữa.
Thậm chí, khi được cung cấp những thông tin có cơ sở chứng minh rõ ràng để giúp ta hiểu đúng đắn hơn về đối tượng ấy, thì ta cũng không dễ dàng mở lòng ra tiếp nhận. Ta luôn nghi ngờ: “Dò sông dò biển dễ dò/ Nào ai lấy thước mà đo lòng người”. Ta biến lời nhắc nhở nên cẩn thận khi đặt niềm tin thành câu thần chú bất di bất dịch để che đậy sự sợ hãi, yếu đuối và thiếu trách nhiệm của mình. Thế nên, có khi sự thật hiện bày sờ sờ ra đó nhưng ta lại chìm đắm trong những vọng tưởng miên man, rồi rơi vào những nhận thức và phán xét sai lệch.
Càng sống trong điều kiện tiện nghi thì nội lực của ta càng yếu kém. Khả năng quan sát tinh tường để quyết đoán đúng sai hay thật giả của ta không còn nhạy bén như xưa nữa. Ta đã đặt đời sống của mình ở bên ngoài quá nhiều, hy vọng điều kiện hạnh phúc từ những đối tượng khác quá lớn, nên lúc nào ta cũng lo sợ nghịch cảnh sẽ ập tới. Nếu ta từng bị lừa dối, từng lăn xả trong chốn thương trường hay hoạt động chính trị, thì trong ta rất dễ hình thành thói quen cảnh giác với tất cả mọi đối tượng, dù với những người thân yêu. “Không có lửa thì làm sao có khói“, ta vẫn thường dùng hình ảnh này để giải mã mọi vấn đề. Trong khi thực tế không có vấn đề nào giống vấn đề nào. Cũng như khói không nhất thiết phải sinh ra từ lửa, vì ngay cả khí lạnh cũng có thể sinh ra khói kia mà.
Ngay khi người kia không có một tín hiệu nào khả nghi cả, họ rất tốt và dễ thương, ta biết rõ điều ấy nhưng ta vẫn không cưỡng lại nổi cố tật nghi ngờ của mình. Ta nghĩ thà nghi lầm còn hơn tin lỡ. Đó là một sai sót rất lớn của cơ chế tâm lý. Nếu không chữa trị thì sớm muộn gì nó cũng chuyển sang mức độ nặng hơn như là phán xét hay vu khống. Trong khi một người có nội lực vững vàng thì không bao giờ nghi ngờ người khác làm điều xấu với mình. Vì họ có đủ sức ứng phó một cách bình thản trước mọi biến động.
Lỡ như những nghi ngờ của ta hoàn toàn đúng với sự thật thì sao? Ta mong muốn kết quả nào? Dường như ta đang cố gắng phanh phui những điểm yếu hay những vụng về lầm lỡ của người kia, để ta tránh xa hoặc cổ vũ người khác tẩy chay họ, chứ không phải để hiểu và thương họ hơn. Phần lớn những nghi ngờ của ta đều nhằm vào mục đích thỏa mãn bản ngã, dù có khi ta nhân danh tập thể hay cộng đồng nào đó để lên tiếng. Vậy có khi nào nhân danh đạo đức hay tình nhân ái mà ta chú ý đến những cái hay cái đẹp để ca ngợi, còn những biểu hiện khả nghi kia ta vẫn im lặng quan sát và tìm cách giúp đỡ không? Tại sao ta không giữ thái độ tôn trọng người ấy dù ta đang có vài nghi ngờ về họ? Tại sao ta không tự hỏi do người ấy rất đáng để ta nghi ngờ hay tại ta mắc chứng bệnh nghi ngờ quá nặng? Tại sao ta không dám đứng ra xin lỗi người ấy khi phát hiện ra mình đã nghi oan cho họ? Thế nên, nghi ngờ thường chỉ làm cho ta yếu đuối và hèn nhát hơn mà thôi.
Ta không hề biết rằng mỗi khi phát sinh ý niệm nghi ngờ kẻ khác, dù họ có xấu thật hay không thì trong tâm ta đã tạo ra một nguồn năng lượng rất độc hại. Nó vừa đốt sạch năng lượng ăn lành trong ta, vừa khiến ta đánh mất cơ hội tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm. Bởi vì lúc nào ta cũng bận tâm tìm kiếm thêm chứng cớ. Dù ta chưa thốt ra lời nói hay hành động nào để thể hiện sự nghi ngờ, nhưng một khi ta đã hướng tâm tới người kia để gửi sự nghi ngờ tức là ta đã gửi đi một năng lượng xấu. Đúng hơn là ta nợ họ một cảm xúc xấu. Theo quy luật “cân bằng cảm xúc” thì họ sẽ tìm cách trả lại ta một cảm xúc xấu tương ứng, nếu họ nhận ra sự nghi ngờ của ta có tính chất xấu. Còn không, vũ trụ cũng sẽ nhờ đối tượng khác trả lại ta một cảm xúc xấu khác. Tệ hại nhất là ta lỡ nghi oan cho một bậc nhân từ, đức hạnh – nơi quy tụ vô số năng lượng an lành của vũ trụ – thì hậu quả sẽ khôn lường. Đó là món nợ cảm xúc khổng lồ, ta và con cháu ta nhiều đời mới trả hết.
Cho nên, đừng bao giờ dễ dãi buông ra sự nghi ngờ. Hãy tập tự hối tâm hoặc bày tỏ sự ăn năn trực tiếp khi phát hiện ta mình đã lỡ nghi oan cho ai đó để hóa giải phần nào hậu quả.
Thật ra, nghi ngờ đôi khi là thái độ rất cần thiết. Trong truyền thống thiền tập, các thiền sinh phải tự biết đặt nghi vấn về chính phiền não của mình hay mọi hiện tượng xảy ra ngay trước mắt mà không được tin tưởng tuyệt đối vào kinh nghiệm thành công của những bậc thầy đi trước.
“Đại nghi đại ngộ” – nghi ngờ càng lớn giác ngộ sẽ càng lớn. Vì càng nghi ngờ thì sức khám phá càng mạnh mẽ, càng bỏ lại sau lưng những cái thấy đã bị đóng khung. Khi nào bí lắm thiền sinh mới nhờ tới trợ lực của thiền sư bằng những câu hỏi đã được chắt lọc rất kỹ. Nhưng một vị thiền sư đúng nghĩa thì ít khi nào cho một giải đáp rõ ràng cụ thể. Thậm chí, những gọi mở của thiền sư thường rất “lạc quẻ” để đập tan thái độ nhút nhát muốn dựa vào sự hiểu biết của kẻ khác, hoặc để buộc thiền sinh phải ngưng ngay câu hỏi có tính lý thuyết vô bổ ấy. Cuối cùng, thiền sinh cũng phải chịu khó đối đầu với bức tường nhận thức cũ rích và phiền não của chính mình để tìm lời giải đáp.
Một thiền sinh đúng nghĩa luôn có trách nhiệm với nghi ngờ của chính mình, khi đã đặt ra là phải xông pha đi tìm câu trả lời đúng đắn, chứ không phải là quăng ra bỏ đó rồi năm mười năm sau cũng vẫn còn y nguyên như vậy. Cái nghi vấn của thiền sinh luôn nằm trong sự thao thức, nhưng đầy tự do. Nó hoàn toàn khác biệt với căn bệnh nghi ngờ để bảo vệ cái tôi yếu đuối, sợ hãi, vô trách nhiệm của những kẻ có sở thích tìm lỗi lầm ở người khác.
Thắp sáng ngọn đèn thiền
Giữ tâm mãi linh thiêng
Nhìn đời bằng chính kiến
Thấu suốt cõi lòng đêm.

Sinh lão bệnh tử - bất dữ nhân kỳ

Câu nói tuy đơn giản nhưng gói gọn một triết lý thực tế trong cuộc sống của mọi sinh vật hữu hình.
Tuy thực tế diễn tiến hàng ngày, hàng giờ hàng phút, nhưng con người cứ xem như chuyện xa lạ; chuyện của ai chứ không phải của mình.
Chính vì thế mà chư Tổ luôn nhắc nhở chúng ta về sinh mạng mong manh của kiếp người được tính qua từng hơi thở. “Bất dữ nhân kỳ” có nghĩa là không hẹn cùng ta.
Cái chuyện “SINH LÃO BỆNH TỬ” là chuyện ngàn đời của nhân thế nói riêng và chúng sinh nói chung. Chư Thánh hiền, minh triết chính vì thế mà đã tìm con đường thoát ly sinh tử. Trong đó, đức Thế Tôn đã làm nổi bật thuyết “THOÁT LY SINH TỬ” mà vô vàn triết lý tôn giáo trước kia chỉ một con đường duy nhất là hòa nhập với đại ngã, hoặc trở về với Thượng Đế.
Tuy thuyết Đại ngã nghe như mơ hồ huyền nhiệm, nhưng dù sao vẫn cho ta cảm nhận một triết lý chân ngã. Còn Thượng Đế tạo cho con người một ý niệm về một thần tượng, một hữu thể, một đối tác như những đối tác phàm tục có điều kiện, vì học thuyết Thần học đã đưa ta đến ý niệm tôn giáo hữu thể như thế. Mãi đến khi văn hóa Đông Tây giao hòa thì thuyết Thần học nâng cấp Thượng Đế như một “Thánh tính”.
Sinh - lão - bệnh - tử.
Một khi thiên về “thần tượng” thì những nhu cầu, những bức bách của nhân sinh bị quên lãng để phục vụ một đấng tối cao, nói cách khác – tất cả vì đấng tối cao, vì vậy, nguyên gốc khổ đau của kiếp người vẫn khó mà giải quyết rốt ráo, lắm khi con người bị đánh lạc hướng, tự mình đánh lừa để luôn sống trong ảo tưởng được cứu rỗi bởi tha lực, tự thân không cần trui rèn tôi luyện, chuyển hóa. Đó không phải là cách giải quyết rốt ráo về “SINH LÃO BỆNH TỬ” hiện nay.
Trở lại học thuyết "Tứ Đế" của nhà Phật, con đường vạch rõ cái khổ, nguyên nhân của khổ, con đường đã được diệt khổ và phương pháp diệt khổ. Sinh-lão-bệnh-tử chỉ là một vế trong 4 vế của Tứ Đế. Đã là một vế thì cái khổ cũng chỉ được nhìn dưới nhãn quan thực dụng. Cái khổ của bệnh tật là cái khổ của vật thể, do cơ chế vật lý bất định. Nếu chỉ nhìn với khía cạnh như thế thì vấn đề giải quyết cũng chỉ là phương tiện vật chất được gọi là Đông dược – Tây dược.
Tuy nhiên, dược tính có hiệu quả một phần nhờ y đức của thầy thuốc, phúc đức của bệnh nhân và dược tính tương thích với bệnh lý. Bổn phận của thầy thuốc không những thuộc về y đức mà nhân thân của thầy thuốc phải có cuộc sống mẫu mực đạo đức (lương y như từ mẫu).
Đời người không ai nắm chắc thọ mạng nhưng có thể nắm chắc phước báu nếu thật tâm xem trọng về tâm đức; phước báu là cách duy nhất giải quyết bệnh khổ và hướng đến con đường thoát ly khổ ải.
Là người phật tử phải hiểu rằng bệnh là do ác nghiệp, đã là nghiệp bất thiện thì giải quyết nghiệp không chỉ bằng thuốc mà còn là phước. Phước là do hạnh nguyện hành thiện lợi ích nhân sinh, trong đó cúng dường, bố thí (tài thí, pháp thí và vô úy thí), phóng sinh và lạc hỷ… thuộc thiện nghiệp. Thiện nghiệp tuy là còn trong vòng đối đãi của tục đế, nhưng là phương tiện để giải quyết ác nghiệp trong tương đối. Y dược là một trong những phương tiện giải quyết bệnh khổ không thể chối bỏ; nhưng cái quan trọng không thể xem đó là cách duy nhất giải quyết bệnh khổ. Do đó đức Thế Tôn cũng như các minh sư thánh trí đưa ra con đường thoát ly ác nghiệp: “ly dục – ly bất thiện pháp”, có nghĩa giải quyết tận gốc bệnh khổ về thân cũng như cái khổ của sinh tử luân hồi.
Lương y Đông phương ngày xưa, ngoài nghiệp vụ, còn bảo trọng tâm đức và khuyến khích bệnh nhân hành thiện tô bồi âm đức; nghĩa là vừa chữa ngọn vừa chữa gốc. Có “sinh” tức có “tử”, có “lão” phải có “bệnh”. Lắm khi chưa “lão” cũng đã mang “bệnh”. Như vậy từ “sinh” đến “tử” cả một chuỗi dài khổ đau miên viễn; y dược chỉ giải quyết tạm thời cái khổ mà không đủ khả năng dứt điểm nguồn gốc khổ đau, chính vì thế, con đường tâm linh là phương cách siêu sinh thoát tử. Tuy nhiên, cũng còn tùy thuộc vào những đoạn đường toàn diện hay “hóa thành dụ” của từng môn phái tâm linh. Mỗi bậc Thánh đức tùy năng lực thăng hoa tâm linh mà có một công đoạn chứng đắc khác nhau, vì thế, môn đồ cũng chỉ đi trên con đường tương đối hoặc tuyệt đối khác nhau, hoặc chỉ hưởng phước chư Thiên, Tiên giới, thoát khỏi tam đồ ác đạo, hoặc vĩnh viễn thoát ly tam giới nhân quả.
Còn trong sinh tử tức còn bệnh tật khổ đau; tự thân luôn mang mầm mống khổ đau bệnh tật, khó mà chủ động sinh mệnh của mình, chính vì vậy, chư Tổ cảnh giác chúng ta: “triêu tồn – tịch vong, sát na dị thế” –“sớm còn tối mất, trong nháy mắt đã sang thế giới khác.
SINH LÃO BỆNH TỬ - BẤT DỮ NHÂN KỲ. TRIÊU TỒN TỊCH VONG - SÁT NA DỊ THẾ!

Bao giờ thôi hết dại khờ

Dại khờ thì chẳng ai muốn, sanh ra đã trót dại rồi thì biết làm sao được. Ấy vậy mà có những người thông minh lanh lợi, học hành giỏi giang, nhìn rộng trông xa nhưng xem ra cũng khó vượt qua đại ải dại khờ.
Nhận lầm các giá trị rồi nhọc sức uổng công đuổi theo những ảo ảnh phù vân có lẽ vẫn là dại khờ muôn thuở, là thân phận của kiếp người. Một ngày mỏi mệt hay lúc tuổi đã xế chiều, có ai bình tâm nghĩ lại ta đã làm gì đáng và nên làm. Đâu đó trong tâm thức vọng về hình ảnh chàng khờ bán trầm hương mà như bảng lảng chân dung chính mình.
Kinh Bách Cú Thí Dụ kể rằng: “Xưa, có ông trưởng giả giàu có. Ông ta có một người con trai tài trí thấp hèn. Một hôm, ông nghĩ rằng phải cho con cái đi buôn để làm quen với thương trường và trui rèn bản lĩnh kinh doanh. Người con khởi sự chuyến buôn bán đầu tiên với mặt hàng chủ yếu là trầm hương.
Trầm hương giá đắt nên rất ít người mua. Trải qua thời gian khá lâu nhưng bán buôn cứ ế ẩm. Những người cùng đi với anh ta đã trở về. Nóng lòng vì lo sợ lạc đường, trong khi trầm hương lại ít người mua, không biết làm sao, anh ta bèn xem xét, nghiên cứu nhu cầu của khách chợ.
Thấy than là mặt hàng bán rất chạy, anh ta liền đốt hết trầm hương thành than mong bán được nhanh. Mọi người thấy vậy đều chê cười nói: Có người khờ khạo đến thế sao! Bán trầm hương tuy chậm nhưng thu được nhiều tiền, nay đốt thành than rồi thì còn giá trị gì nữa”.
Thực tế thì không có thương buôn nào lại khờ khạo như gã bán trầm hương kia. Nhưng bình tâm mà xét ở trong chợ đời, nơi mỗi con người kiếm sống bằng cách “bán” đi công sức và trí tuệ của mình thì chí ít cũng một đôi lần, chúng ta đã, đang và sẽ làm gã khờ bán trầm hương.
Vấn đề đặt ra ở đây là cần xác định đúng các giá trị. Trầm hương vốn quý giá thì không thể bán chạy như than củi. Cứ túc tắc mà bán được trầm thì chắc chắn lợi nhuận thu về cao hơn bán than ào ạt. Vì thế, không thể bán trầm nhanh như bán than, lại càng không thể đốt trầm thành than để mong bán chạy.
Do vậy, sự nghiệp của đời người, muốn thành tựu phải có thời gian đầu tư, có thể vận dụng cả nghề tay trái, lấy ngắn nuôi dài nhưng không thể chạy theo cái lợi nhỏ trước mắt mà bỏ quên sự nghiệp lâu dài. Đơn cử, một họa sĩ trong quá trình sáng tác nên những bức tranh để đời có thể vẽ thêm tranh chợ, nhưng nếu chạy theo tranh chợ vì bán chạy thì sự nghiệp của anh ta chỉ là một gã thợ vẽ tầm thường.
Một thời, chúng ta phá rừng ào ạt, đốt than, lấy củi, trồng cây lương thực ngắn ngày, tuy giải quyết được vấn đề trước mắt nhưng bình tâm mà xét thì việc đốt phá rừng vàng thành đất trắng thì cũng chẳng khác nào đốt trầm hương.
Trong thời hội nhập, việc phát triển kinh tế và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc dân tộc cũng đang là một thử thách cho mọi quốc gia. Kinh tế có thể xây dựng thành công trong một giai đoạn, trong khi các giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc vốn được tích lũy, kế thừa từ nhiều đời. Phát triển kinh tế mà đánh mất các giá trị văn hóa truyền thống là một sự đánh đổi oan uổng và đáng tiếc, có tội với lịch sử, với dân tộc.
Đặc biệt là đối với sự nghiệp tu học, cứu cánh và phương tiện là hai vấn đề vốn không tách rời nhưng có giá trị khác biệt. Phương tiện rất cần thiết để hỗ trợ cho thành tựu cứu cánh nhưng chạy theo phương tiện mà quên đi cứu cánh là sự vong bản, là đốt trầm để bán than. Hiện tại, cứu cánh đích thực của sự nghiệp tu học là giải thoát nhưng đã mấy ai làm được hay chỉ loay hoay như người vào rừng đốn lõi cây mà chỉ đem về cành lá mà thôi.
Thì ra, chuyện chàng khờ bán trầm hương không hẳn chỉ là cổ tích và cũng chẳng phải của riêng ai.

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

Xả nhân, duyên, nghiệp

LỜI PHẬT DẠY
1- Xả của cải tức là xả cái duyên lìa tội ác.
2- Xả tham đọa tức là xả cái nhân lìa tội ác.
3- Xả tội tức là dứt các nghiệp sanh tử.
*****
1- Không xả bỏ của cải thì pháp sám hối không thành.
2- Không xả tâm tham thì nhân luân hồi không dứt.
3- Không xả tội thì hạnh ô nhiễm không quên.
CHÚ GIẢI:
Đúng như lời Phật dạy: “Xả của cải tức là xả cái duyên lìa tội ác”. Người còn tích lũy của cải là người còn tạo duyên tội ác. Thưa các bạn! Người xả của cải là ai? Và xả của cải như thế nào?
Noi gương đức Phật đấy các bạn ạ! Phật là hàng vua chúa, Người đã xả bỏ ngai vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con thơ. Người đã xả hết chỉ còn ba y một bát, đi xin ăn, sống rày đây, mai đó, không nhà, không gia đình, thiểu dục, tri túc, tâm hồn trắng bạch như vỏ ốc, phóng khoáng như hư không. Ngài là hiện thân gương hạnh buông xả và đã nhờ buông xả mà Ngài đã tìm thấy được chân lý. Con đường giải thoát cho chính mình và cho mọi người mai sau. Gương hạnh sống buông xả của Phật thật là tuyệt vời. Cuộc đời Ngài nói được làm được, đó là lời nói đi đôi với hành động: “Xả của cải tức là xả cái duyên lìa tội ác”. Ngài đã sống đúng nhất quán, lìa tội ác.
Hỡi các bạn đồng tu! Đức Phật thì xả cái duyên lìa tội ác, còn các bạn thì sao? Sao các bạn lại tích lũy của cải nhiều thế? Chùa to Phật lớn, tiền bạc nhiều, xe cộ, đồ đạc, phòng ốc sang đẹp như ông Chúa, bà Hoàng, … của cải không thấy bớt, ngày càng thêm nhiều... Như vậy các bạn có biết không? Các bạn có xả cái duyên tội ác không? Tích lũy của cải là tích lũy tội ác đấy các bạn ạ! Hãy tránh xa của cải thì tội ác mới tiêu trừ. Như vậy con đường tu hành của các bạn mới tìm thấy sự giải thoát.
Qua lời dạy trên đây chúng ta thấy rất rõ cái duyên tội ác là do của cải, tài sản. Cho nên ai tích lũy của cải tài sản nhiều là người tạo duyên tội ác nhiều, ai tích lũy của cải tài sản ít thì tạo duyên tội ác ít.
Một người tu theo Đạo Phật khi đã hiểu biết duyên nào gây ra tội ác, thì chúng ta nên từ bỏ và tránh xa duyên đó. Phải không các bạn? Nếu không tránh xa duyên tội ác đó thì chúng ta đừng nên tu theo Đạo Phật, vì có tu chẳng có ích lợi gì cả. Duyên tội ác là gì các bạn. Là của cải, tài sản, ruộng vườn, đất đai, nhà cửa, chùa to, Phật lớn, v.v…
Xả của cải tài sản, v.v... là xả cái quả của tội ác như trên, còn xả cái nhân tội ác. Thì đến câu hai đức Phật dạy: “Xả tham đọa tức là xả cái nhân lìa tội ác”.Vậy tham đọa là nghĩa gì?
Tham đọa tức là tham độc, một trong ba độc: Tham, sân, si.
Tham đọa có nghĩa là lòng tham muốn đưa chúng ta vào sự khổ đau; tham đọa còn có nghĩa là do lòng tham muốn đưa chúng ta vào cảnh khổ hay địa ngục.
Lòng còn tham muốn là cái nhân của tội ác. Người tu theo Đạo Phật phải thấy rõ cái nhân này: “Tâm tôi có tham tôi biết tâm tôi có tham”, tức là tôi biết tâm tham là nhân của tội lỗi. Do đó, tôi phải ngăn và diệt nó, ngăn và diệt cái nhân tội lỗi là diệt lòng tham muốn của mình.
Qua lời dạy này tôi biết rất rõ nhân của tội ác là tâm tham muốn của tôi. Vậy từ đây tôi quyết tâm diệt trừ cái nhân gây ra tội ác. Nhờ có quyết tâm ấy, tâm tham của tôi chấm dứt.
Lời dạy này tuy ngắn ngủi nhưng nó mang đầy đủ tính chất đạo giải thoát của Phật giáo.
Theo như lời Phật dạy: “Xả tội ác tức là dứt các nghiệp sanh tử”. Ở đây đức Phật dạy: “xả tội ác”. Vậy xả tội ác như thế nào?
Như hai lời dạy ở trên:
1- Duyên của tội ác là của cải.
2- Nhân của tội ác là lòng tham muốn.
 Theo như lời dạy trên đây chúng ta đã biết duyên và nhân của tội ác. Vậy xả tội ác thì chỉ có xả nhân và duyên của nó, thì tội ác sẽ không còn nữa.
“Xả tội ác tức xả của cải và tâm tham muốn của chúng ta”. Tu theo Phật giáo quá đơn giản phải không các bạn? Chỉ cần xả của cải và tâm tham muốn của mình thì không còn tội lỗi và dứt nghiệp sanh tử. Nói thì dễ nhưng làm được việc này không phải dễ. Phải không các bạn?
Hiểu biết thì dễ và rất đúng nhưng làm sao xả của cải và tâm tham muốn của mình cho được. Không đơn giản đâu các bạn. Cả một công trình vĩ đại của một đời người tu tập.
Xả của cải thì dễ, nhưng xả lòng ham muốn thì khó. Khó lắm các bạn ạ! Chỉ có những bậc thấy biết đời này khổ như thật thì mới làm được và làm rất dễ dàng. Còn chúng ta là những hạng cóc, nhái, đời cũng muốn mà đạo cũng muốn. Cả hai đều muốn hết nên cóc, nhái cũng chỉ là cóc, nhái mà thôi. Phải không các bạn?
Đức Phật đã xác định: “Không xả bỏ của cải thì pháp sám hối không thành”. Người đời thường hay đến chùa lạy hồng danh Phật để sám hối hoặc phát lồ sám hối trước một vị thầy để mong cho tiêu tội, nhưng sám hối phát lồ hay lạy hồng danh chư Phật mà không xả bỏ của cải của mình thì pháp sám hối không thành có nghĩa là tội lỗi không dứt, không bao giờ hết.
Trên đây là lời kết thúc của đức Phật cho chúng ta thấy lạy lễ hồng danh chư Phật và phát lồ sám hối không thể tiêu tội nghiệp chướng được. Người nào dạy chúng ta lạy Phật nhiều và phát lồ sám hối cho tiêu tai nghiệp chướng là dạy mê tín, là đi ngược lại lời dạy của đức Phật; người ấy là đạo sĩ Bà La Môn đang lừa đảo tín đồ.
“Không xả bỏ của cải thì pháp sám hối không thành”. Các bạn có nghe lời dạy này không?
“Tánh tội vốn không do tâm tạo
Tâm đã diệt rồi tội sạch không
Tội trong tâm ấy cả hai không
Thế mới là chân sám hối”.
Đây là sự sám hối của Thiền Tông và Đại Thừa, nhưng sự sám hối này không giống như lời đức Phật dạy: “Không xả bỏ của cải thì pháp sám hối không thành”. Chúng ta hãy nhìn sự thật về Thiền Tông và Đại Thừa. Thiền Tông và Đại Thừa thì của cải tài sản càng lúc càng đồ sộ. Chùa to Phật lớn hằng tỷ bạc, vật chất xe cộ đầy đủ không thiếu vật gì, giống như người thế gian. Có đúng như vậy không các bạn? Vậy sám hối của Thiền Tông và Đại Thừa có tiêu tội không các bạn hay chỉ là lời nói suông mà thôi.
Đức Phật đã xác định: “Không xả tâm tham thì nhân luân hồi không dứt”. Nhờ lời dạy này chúng ta biết rõ nguyên nhân luân hồi là tâm tham. Cho nên, người nào tâm còn tham là còn luân hồi; người nào dứt tâm tham là dứt luân hồi. Do lời dạy xác định này mà trên đường tu tập chúng ta biết rất rõ mình còn luân hồi hay đã hết luân hồi. Tâm tham còn là còn luân hồi, tâm tham hết là hết luân hồi.
Như vậy, Đạo Phật không có dạy điều gì là mơ hồ trừu tượng mê tín, mà là một sự luân hồi rất cụ thể rõ ràng. Vì tâm tôi hết tham thì sẽ tương ưng nơi đâu tâm không có tham, còn tâm tôi có tham thì tôi phải tương ưng với tâm tham của mọi người trên thế gian này, vì mọi người trên thế gian này tâm đều có tham. Luân hồi là như vậy, là một điều thực tế như vậy, không thể có ai chối bỏ được thuyết luân hồi này là không có. Anh còn tham thì anh tránh đâu khỏi chỗ luân hồi; anh hết tham thì luân hồi chẳng làm gì anh được. Ví như: tâm tham của anh là một tảng đá, dù anh không muốn nó chìm xuống đáy hồ, nhưng khi ném nó xuống hồ thì nó vẫn chìm xuống tận đáy. Còn tâm anh không tham ví như giọt dầu, dù anh muốn nó chìm xuống đáy hồ, nhưng khi ném nó xuống hồ nó vẫn nổi.
Qua ý nghĩa này chúng ta mới hiểu rõ nghĩa lời Phật dạy: “Ta chỉ còn có một kiếp này nữa mà thôi”. Như vậy, một người đã tu chứng đạo thì không còn luân hồi trở lại thế gian này nữa, dù người ấy có muốn cũng không được, vì họ đã trở thành giọt dầu rồi, trong thế gian này còn chỗ nào đâu mà tương ưng họ tái sanh luân hồi. Cho nên, thuyết Bồ Tát tu thành chánh quả còn trở lại độ chúng sanh là học thuyết của Bà La Môn. Khi tu tập hết tham rồi, bây giờ vì độ chúng sanh nên phải tu tập tham trở lại để luân hồi. Cũng như học thuyết Phật tánh. Đã là Phật tánh là tánh giác, mà lại còn mê muội chui vào cái đãy da hôi thối (thân tứ đại), lại còn tham chùa to Phật lớn, tham xe hơi nhà lầu, v.v.. Phật tánh là tánh giác thì làm sao có điều vô lý này được. Phải không các bạn?
Đúng là cái lý thuyết Phật tánh lừa đảo mọi người. Tỏ ra lòng đại bi, Bồ Tát thương xót chúng sanh như con một. Thật ra mình tu chưa xong mà muốn làm cỗ xe lớn độ chúng sanh. Thật là một người mù dẫn đường cho một đám người mù.
Luân hồi không phải là linh hồn đi luân hồi, như mọi người tưởng, mà là nghiệp tham đi luân hồi. Cho nên, người tu hành là cố tâm tu tập tạo thành nghiệp không tham nơi tâm mình. Tâm không còn nghiệp tham thì chấm dứt luân hồi. Do những lời dạy này, chúng ta biết mình tu tập đến đâu. Có làm chủ sanh tử và chấm dứt luân hồi được chưa? Tu tập có giải thoát hay chưa giải thoát đều biết rất rõ ràng. Vì tu tập đến đâu có kết quả đến đó. Cho nên đức Phật nói: “Pháp Ta không có thời gian, đến để mà thấy...”.
Tu theo Phật giáo chúng ta không sợ lầm đường lạc lối, vì giới luật là một nền tảng vững chắc. Ai không sống đúng giới luật thì biết người đó tu không đúng pháp. Dù họ có nói nhập Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền mà giới luật không nghiêm chỉnh thì biết họ chưa ly dục ly bất thiện pháp. Chưa ly dục, ly bất thiện pháp thì Sơ Thiền còn chưa nhập được, huống là Tam thiền, Tứ Thiền và làm chủ sanh, tử, chấm dứt luân hồi, chỉ là vọng ngữ mà thôi. Nhờ những lời dạy này, chúng ta xét về Thiền Tông và Đại Thừa mới biết rõ giáo pháp của họ là giáo pháp lừa đảo. Xin các bạn cảnh giác đừng để khỏi sa ngã vào đường tội lỗi (diệt Phật giáo).
Đức Phật dạy: “Không xả tội thì hạnh ô nhiễm không quên”. Như chúng ta đã biết không xả bỏ của cải và diệt tâm tham thì tội không bao giờ hết, mà tội lỗi không bao giờ hết thì hạnh ô nhiễm không bao giờ quên.
Ví dụ: ăn uống phi thời, ngủ nghỉ phi thời... đó là những hạnh ô nhiễm khó quên. Hút thuốc lá, uống rượu... đó là những hạnh ô nhiễm khó quên. Tham, sân, si, mạn, nghi... đó là những hạnh ô nhiễm khó quên. Muốn để cho hạnh ô nhiễm không còn nữa thì phải ngay từ lúc này từ bỏ không chạy theo vật chất của cải tài sản, không tham lam, ngăn chặn lòng ham muốn thì hạnh ô nhiễm mới giữ gìn trọn vẹn.

Cân bằng thân tâm

Hàng triệu người đang sống theo tấm gương. Họ nghĩ rằng điều họ thấy trong gương là khuôn mặt của mình. Họ nghĩ đây là tên họ, đây là căn cước của họ và có vậy thôi.
Bạn sẽ phải đi sâu hơn một chút. Bạn sẽ phải nhắm mắt lại. Bạn sẽ phải quan sát bên trong. Bạn sẽ phải trở nên im lặng. Chừng nào bạn còn chưa đi tới điểm tuyệt đối im lặng bên trong, bạn sẽ không bao giờ biết được mình là ai. Tôi không thể nói điều đó cho bạn được. Không có cách nào để nói nó. Mọi người đều phải tìm ra nó.
Nhưng bạn hiện hữu – chừng đấy là chắc chắn. Câu hỏi duy nhất là, đạt tới cốt lõi bên trong nhất của mình, tìm ra bản thân mình. Và đó là điều tôi đã từng dạy ngần ấy năm này. Điều tôi gọi là thiền thì không là gì ngoài phương cách để tìm ra bản thân bạn.
Đừng hỏi tôi. Đừng hỏi bất kì ai. Bạn có câu trả lời bên trong bạn, và bạn phải đi sâu vào bản thân mình để khám phá ra nó. Và nó gần thế – quay một trăm tám mươi độ và bạn sẽ đối diện với nó.
Và bạn sẽ ngạc nhiên rằng bạn không phải là cái tên của mình, bạn không phải là khuôn mặt của mình, thân thể mình, bạn thậm chí không là tâm trí mình.
Bạn là một phần của toàn thể sự tồn tại này, của mọi cái đẹp, cái vĩ đại, phúc lạc, niềm cực lạc vô cùng của nó.
Biết tới bản thân mình là mọi điều tâm thức ngụ ý.
Thân thể trong bản thân nó không là gì cả. Nó chói sáng bởi vì cái gì đó bên ngoài thân thể. Sự huy hoàng của thân thể không phải ở trong bản thân thân thể – thân thể là người chủ – sự huy hoàng là bởi vì người khách. Nếu bạn quên mất người khách, thế thì điều đó là sự mê đắm cực kì. Nếu bạn nhớ tới người khách, thế thì yêu mến thân thể, mở hội thân thể là một phần của tôn thờ.
Tôn thờ hiện đại về thân thể là vô nghĩa. Mọi người cứ chạy theo thức ăn lành mạnh, xoa bóp, thể dục thể hình, và theo cả nghìn lẻ một cách họ bằng cách nào đó cố gắng tạo ra ý nghĩa trong các kiếp sống của mình. Nhưng nhìn vào mắt họ; sự trống rỗng lớn lao tồn tại. Bạn có thể thấy họ đã lỡ. Hương thơm không có đó, hoa đã không nở. Sâu bên trong, họ giống như sa mạc, mất hút, chẳng biết làm gì. Họ cứ làm nhiều điều cho thân thể, nhưng lại bỏ lỡ mục tiêu.
Tôi đã nghe một giai thoại:
Rosenfeld đi vào nhà với cái cười toe toét trên mặt. “Em sẽ sẽ chẳng bao giờ đoán được anh vừa mặc cả cái gì,” anh ta nói với vợ. “Anh mua bốn tấm vải nhân tạo, dây lưng thép, tấm phủ bậc thang toả tròn, giấy dán tường trắng, bánh xe dầu dãi nắng mưa, mà lại bán hạ giá nữa!”
“Anh có dở hơi không đấy?” bà Rosenfeld nói. “Anh mua bánh xe để làm gì? Anh thậm chí không có cả xe ô tô.”
“Vậy,” Rosenfeld nói, “em mua quán bia, phải không?”
Nếu trung tâm bị bỏ lỡ thì bạn có thể cứ trang điểm ngoại vi. Nó có thể lừa người khác, nhưng nó không thể thoả mãn bạn được. Nó thậm chí đôi khi có thể lừa bạn, bởi vì ngay cả lời nói dối riêng của người ta được lặp lại quá nhiều lần bắt đầu có vẻ giống như chân lí. Nhưng nó không thể thoả mãn cho bạn được, nó không thể cho bạn sự mãn nguyện. Con người hiện đại đang cố gắng vất vả để tận hưởng cuộc sống, nhưng dường như không có hân hoan. Nhớ điều đó: bất kì khi nào bạn đang cố gắng tận hưởng bạn sẽ bỏ lỡ. Khi bạn đang cố gắng đạt tới hạnh phúc bạn sẽ lỡ.
Chính nỗ lực đạt tới hạnh phúc là ngớ ngẩn – bởi vì hạnh phúc là ở đây: bạn không thể đạt được nó. Không cái gì phải được làm về nó cả, bạn phải đơn giản cho phép nó. Nó đang xảy ra, nó là tất cả xung quanh bạn; bên trong, bên ngoài, chỉ hạnh phúc hiện hữu. Chẳng cái gì khác là thực. Quan sát, nhìn sâu vào trong thế giới, trong cây cối, chim chóc, đất đá, dòng sông, vào trong các vì sao, mặt trăng và mặt trời, vào con người, con vật – nhìn sâu: sự tồn tại được làm ra từ chất liệu của hạnh phúc, vui vẻ. Nó được làm từ phúc lạc. Chẳng có gì được làm về nó. Chính việc làm của bạn có thể là rào chắn. Thảnh thơi và nó đáp ứng bạn; thảnh thơi và nó xô vào bạn; thảnh thơi, nó tràn ngập bạn.
Con người hiện đại bị căng thẳng. Căng thẳng nảy sinh khi bạn săn đuổi cái gì đó, thảnh thơi nảy sinh khi bạn cho phép cái gì đó.
Con người hiện đại đang săn đuổi, săn đuổi vất vả, cố gắng lấy cái gì đó từ cuộc sống, cố gắng thúc ép cuộc sống. Chẳng cái gì bắt nguồn từ điều đó bởi vì đó không phải là cách thức. Bạn không thể thúc ép cuộc sống được; bạn phải buông xuôi theo nó. Bạn không thể chinh phục cuộc sống được. Bạn phải dũng cảm để bị cuộc sống đánh bại. Thất bại là chiến thắng ở đó, và nỗ lực để chiến thắng sẽ chứng tỏ chẳng là gì ngoài thất bại cuối cùng, hoàn toàn của bạn.
Cuộc sống không thể bị chinh phục bởi vì bộ phận không thể chinh phục được toàn thể. Cũng dường như là giọt nước nhỏ đang cố gắng chinh phục đại dương. Vâng, giọt nước nhỏ có thể rơi vào trong đại dương và trở thành đại dương, nhưng nó không thể chinh phục được đại dương. Thực tế, việc rơi vào trong đại dương, trượt vào trong đại dương là cách chinh phục.
Con người hiện đại đang cố gắng tìm ra hạnh phúc, do đó mới có quan tâm quá mức tới thân thể. Điều đó gần như ám ảnh. Nó đã đi ra ngoài các giới hạn của mối quan tâm, nó đã trở thành ám ảnh: liên tục suy nghĩ về thân thể, làm điều này điều nọ, đủ mọi thứ. Con người đang làm nỗ lực để có tiếp xúc nào đó với hạnh phúc qua thân thể. Điều đó là không thể được.
Và điều thứ hai: tâm trí hiện đại mang tính cạnh tranh. Không nhất thiết là bạn có thể thực sự trong tình yêu với thân thể mình; bạn có thể chỉ cạnh tranh với người khác. Bởi vì người khác đang làm mọi việc, bạn phải làm việc đó. Tâm trí hiện đại là tâm trí nông cạn, tham vọng nhất đã từng tồn tại trên thế giới. Đó chính là tâm trí cơ sở, trần tục. Đó là lí do tại sao doanh nhân đã trở thành thực tại cao quí nhất ở Mĩ. Mọi thứ khác đều mờ đi trong bối cảnh; doanh nhân, người kiểm soát tiền bạc mới là thực tại cao quí nhất. Ở Ấn Độ, trong hàng thế kỉ brahmin là thực tại cao quí nhất – người tìm kiếm Thượng đế. Ở châu Âu người quí tộc là thực tại cao quí nhất – có văn hoá tốt, có giáo dục, tỉnh táo, hài hoà với sắc thái tinh tế của cuộc sống: âm nhạc, nghệ thuật, thơ ca, điêu khắc, kiến trúc, vũ cổ điển, ngôn ngữ, tiếng Hi Lạp và La tinh. Người quí tộc, người đã được ước định theo các giá trị cao hơn của cuộc sống trong nhiều thế kỉ, đã là thực tại cao quí nhất ở châu Âu. Ở nước Nga xô viết người vô sản, người bị áp bức, người bị đàn áp, người lao động là thực tại cao quí nhất. Ở Mĩ đó là doanh nhân, người kiểm soát tiền bạc.
Tiền bạc là cõi cạnh tranh nhất. Bạn không cần có văn hoá, bạn chỉ cần có tiền. Bạn không cần biết gì về âm nhạc, không cần biết gì về thơ ca. Bạn không cần biết gì về văn học cổ điển, lịch sử, tôn giáo, triết học – không, bạn không cần biết. Nếu bạn có số dư ngân hàng lớn, bạn là quan trọng. Đó là lí do tại sao tôi nói đây là tâm trí nông cạn nhất đã từng tồn tại. Và tâm trí này đã biến mọi thứ thành thương mại. Tâm trí này liên tục trong cạnh tranh. Ngay cả bạn mua tranh của Van Gogh hay Picasso, bạn cũng không mua nó vì Picasso. Bạn mua bởi vì nhà hàng xóm đã mua. Họ có tranh của Picasso trong phòng khách của họ, cho nên làm sao bạn chịu được việc không có nó? Bạn phải có nó. Bạn có thể không biết gì – bạn thậm chí có thể không biết cách treo nó, bên nào là bên nào. Bởi vì khó mà biết được, khi có liên quan tới Picasso, liệu bức tranh có bị treo lộn ngược hay lẫn phải trái không. Bạn có thể không biết tí gì liệu đó là tranh đích thực của Picasso hay không. Bạn có thể không nhìn vào nó chút nào, nhưng bởi vì những người khác có nó và họ đang nói về Picasso, bạn phải trưng bầy văn hoá của mình. Bạn đơn giản trưng bầy tiền của mình thôi. Cho nên bất kì cái gì đắt đều trở thành có ý nghĩa; bất kì cái gì đắt đều được coi là có ý nghĩa.
Tiền và hàng xóm dường như là tiêu chuẩn duy nhất để quyết định mọi thứ: xe ô tô của họ, nhà của họ, tranh của họ, trang trí của họ. Mọi người đều có nhà tắm hơi trong phòng tắm của mình không phải bởi vì họ yêu thân thể mình, không nhất thiết vậy, mà bởi vì nó là cái có ở ‘trong’ – mọi người phải có nó. Nếu bạn không có nó, bạn có vẻ nghèo hèn. Nếu mọi người đều có nhà trên núi, bạn phải có nó. Bạn có thể không biết cách tận hưởng núi non; bạn có thể đơn giản bị chán ở đó. Hay bạn có thể đem ti vi và radio của mình tới đó và nghe cùng đài phát thanh bạn vẫn nghe ở nhà, và xem cùng chương trình ti vi như bạn vẫn xem ở nhà. Có tạo ra khác biệt gì đâu nơi bạn ngồi, trên núi non hay trong phòng riêng của bạn? Nhưng người khác có nó. Nhà xe chứa bốn xe ô tô là cần thiết; người khác có nó mà. Bạn có thể không cần bốn xe.
Tôi đã nghe….
Già Luke và vợ ông ấy được biết tới như một đôi keo kiệt nhất trong châu thổ. Luke chết và vài tháng sau vợ ông ấy nằm chết. Bà ấy gọi hàng xóm tới và nói một cách yếu ớt, “Ruthie, chôn tôi trong bộ y phục lụa đen, nhưng trước khi làm điều đó, cắt ở phía lưng ra và làm một bộ y phục mới từ nó. Nó là chất liệu tốt và tôi ghét làm phí hoài nó.”
“Không thể làm điều đó được,” Ruthie nói. “Khi bác và Luke bước lên cầu thang vàng, các thiên thần sẽ nói gì nếu bộ y phục của bác lại không có phần lưng?”
“Họ sẽ không nhìn tôi đâu,” bà ấy nói. “Tôi đã chôn Luke không mặc quần.”
Mối quan tâm bao giờ cũng là về người khác – Luke sẽ ở đó mà không có quần cho nên mọi người sẽ nhìn vào ông ấy. Mối quan tâm của người Mĩ là về người khác….
Bạn có quan sát đứa trẻ đang chạy nhảy, hò hét, nhảy múa chẳng vì cái gì hết cả – bởi vì nó chẳng có gì? Nếu bạn hỏi nó, “Sao cháu hạnh phúc thế?” nó sẽ không thể nào trả lời được bạn. Nó sẽ thực sự nghĩ rằng bạn điên. Có cần nguyên nhân nào để hạnh phúc không? Nó đơn giản sẽ bị choáng rằng ‘tại sao’ có thể được nêu ra. Nó sẽ nhún vai và sẽ tiếp tục cách thức của mình và lại bắt đầu hát và múa. Đứa trẻ chẳng có gì cả. Nó chưa là thủ tướng, nó không là tổng thống Mĩ, nó không là Rockefeller. Nó chẳng sở hữu cái gì – có thể vài vỏ sò hay vài hòn đá mà nó đã nhặt trên bãi biển, có vậy thôi.
Cuộc sống của con người hiện đại chấm dứt khi cuộc sống chấm dứt. Khi thân thể chấm dứt, người này chấm dứt. Do đó, mọi người rất sợ chết. Bởi vì sợ chết nên con người hiện đại cứ cố gắng bằng mọi cách kéo dài cuộc sống của mình, đôi khi tới độ dài ngớ ngẩn. Bây giờ có nhiều người chỉ sống thực vật trong bệnh viện, trong nhà điều dưỡng. Họ không sống; họ có đó lâu rồi kể từ lúc chết. Họ được các bác sĩ, thuốc men, trang thiết bị hiện đại giữ cho sống. Bằng cách nào đó họ cứ treo đó.
Nỗi sợ chết là mạnh vô cùng: một khi mất rồi bạn mất vĩnh viễn và chẳng cái gì sẽ sống sót – bởi vì con người hiện đại chỉ biết tới thân thể và không cái gì khác. Nếu bạn biết chỉ mỗi thân thể, bạn sẽ rất nghèo nàn. Thứ nhất, bạn bao giờ cũng sẽ sợ chết, và người sợ chết sẽ sợ cả sống nữa – bởi vì sống và chết là cùng nhau tới mức nếu bạn sợ chết bạn sẽ trở nên sợ sống. Chính cuộc sống đem tới cái chết, cho nên nếu bạn sợ chết, làm sao bạn có thể thực sự yêu cuộc sống được? Nỗi sợ sẽ có đó. Chính cuộc sống đem lại cái chết; bạn không thể sống nó một cách toàn bộ được. Nếu cái chết chấm dứt mọi thứ, nếu đó là ý tưởng và hiểu biết của bạn, thế thì cuộc sống của bạn sẽ là cuộc sống của xô đẩy và săn đuổi. Bởi vì cái chết đang tới, bạn không thể kiên nhẫn được. Do đó mới có chứng điên tốc độ: mọi thứ đều phải được làm nhanh chóng bởi vì cái chết đang lại gần, cho nên cố gắng xoay xở thật nhiều thứ nhất có thể được trước khi bạn chết, bởi vì một khi bạn chết rồi, bạn chết.
Điều này tạo ra sự vô nghĩa lớn lao và, tất nhiên, có cả phiền não, lo âu. Nếu không có gì sẽ giữ cho thân thể sống sót, thế thì bất kì cái gì bạn làm cũng đều không thể rất sâu sắc. Thế thì bất kì điều gì bạn làm cũng không thể thoả mãn cho bạn được. Nếu cái chết là kết thúc và không có gì sống sót, thế thì cuộc sống không thể có nghĩa và ý nghĩa gì. Thế thì nó là câu chuyện cổ do những kẻ ngốc kể lại, đầy những giận dữ và ồn ào, chẳng có nghĩa lí gì cả.
Con người có ý thức biết rằng mình ở trong thân thể, nhưng người đó không phải là thân thể. Người đó yêu thân thể; nó là chỗ trú ngụ của người đó, ngôi nhà của người đó, gia đình của người đó. Người đó không chống lại thân thể bởi vì thật ngu xuẩn mà đi chống lại nhà riêng của bạn nhưng người đó không phải là người duy vật. Người đó trần tục nhưng không phải là người duy vật. Người đó rất thực tế, nhưng không là người duy vật. Người đó biết rằng có chết đấy, nhưng chẳng cái gì chết cả. Cái chết tới nhưng cuộc sống vẫn tiếp tục.
Tôi đã nghe:
Buổi tang lễ đã qua và Desmond, người làm dịch vụ tang lễ, thấy mình đang đứng bên cạnh một quí ông già lão.
“Một trong các họ hàng sao?” người làm dịch vụ tang lễ hỏi.
“Vâng, tôi đây,” công dân hạng cao trả lời. “Ông bao nhiêu tuổi rồi?”
“Chín tư.”
“Hừ,” Desmond nói, “khó mà trả tiền cho ông để làm chuyến đi về nhà.”
Toàn thể ý tưởng là về cuộc sống thân thể: nếu bạn chín mươi tư tuổi, đã kết thúc rồi! Thế thì khó mà trả tiền cho bạn quay về nhà được; thế thì tốt hơn cả là chết đi. Phỏng có ích gì mà quay lại? – bạn sẽ phải tới nữa. Khó mà trả tiền… nếu cái chết là thực tại duy nhất, thế thì dù bạn chín mươi tư hay hai mươi tư, điều đó tạo ra khác biệt bao nhiêu? Thế thì sự khác biệt chỉ là vài năm. Thế thì người rất trẻ bắt đầu cảm thấy già, và trẻ con bắt đầu cảm thấy đã chết. Một khi bạn hiểu rằng thân thể này là cuộc sống duy nhất, thế thì phỏng có ích gì về tất cả điều đó? Thế thì sao cứ mang nó mãi?
Camus đã viết rằng vấn đề siêu hình cơ sở duy nhất cho con người là tự tử. Tôi đồng ý với ông ấy. Nếu thân thể là thực tại duy nhất và không có gì bên trong bạn mà ở ngoài thân thể, thế thì tất nhiên đó là điều quan trọng nhất cần xem xét, nghiền ngẫm, và thiền. Sao lại không tự tử? Sao phải đợi tới chín mươi tư? Và sao phải chịu đủ mọi loại vấn đề và khổ sở trên đường? Nếu người ta sẽ chết, thế thì sao không chết hôm nay? Sao sáng mai lại cứ dậy? Điều đó dường như vô tích sự.
Cho nên một mặt con người hiện đại thường xuyên chạy từ chỗ này sang chỗ kia để bằng cách nào đó nắm bắt kinh nghiệm, bằng cách nào đó không bỏ lỡ kinh nghiệm. Con người đang chạy khắp trên thế giới, từ thị trấn nọ sang thị trấn kia, từ nước nọ sang nước kia, từ khách sạn nọ sang khách sạn kia. Con người đang chạy từ guru này sang guru khác, từ nhà thờ này sang nhà thờ khác, trong tìm kiếm, bởi vì cái chết đang tới. Một mặt là sự săn đuổi thường xuyên, điên khùng, và mặt khác là sự e ngại sâu sắc rằng mọi thứ đều vô dụng – bởi vì cái chết sẽ chấm dứt tất cả. Cho nên dù bạn sống cuộc sống giàu có hay bạn sống cuộc sống nghèo khó, dù bạn thông minh hay không thông minh, dù bạn là người yêu lớn hay bị bỏ lỡ, điều đó tạo ra khác biệt gì? Chung cuộc cái chết tới, và điều đó là bình đẳng cho mọi người: người khôn và kẻ ngu, hiền nhân và tội nhân, người chứng ngộ và người ngu, tất cả đều xuống đất và biến mất. Vậy tất cả những điều này phỏng có ích gì? Dù đó là Phật hay Jesus hay Judas; điều đó tạo ra khác biệt gì? Jesus chết trên cây thánh giá, Judas tự tử ngày hôm sau – cả hai biến mất vào trong đất.
Mặt khác có nỗi sợ là bạn có thể bỏ lỡ và người khác có thể đạt tới, và mặt khác một lo sợ sâu sắc là cho dù bạn có được, chẳng cái gì thu được cả. Cho dù bạn đạt tới, bạn chẳng đạt tới đâu cả bởi vì cái chết tới và phá huỷ mọi thứ.
Con người ý thức sống trong thân thể, yêu thân thể mình, tôn vinh nó, nhưng người đó không là thân thể. Người đó biết rằng có cái gì đó trong mình sẽ tồn tại sau mọi cái chết. Người đó biết rằng có cái gì đó trong mình là vĩnh hằng và thời gian không thể phá huỷ được nó. Điều này người đó đã đi tới cảm thấy qua thiền, yêu, nguyện. Điều này người đó đã đi tới cảm thấy từ bên trong bản thể riêng của mình. Người đó không sợ hãi. Người đó không sợ cái chết bởi vì người đó biết cuộc sống là gì. Và người đó không săn đuổi hạnh phúc, bởi vì người đó biết Thượng đế đang gửi cho người đó hàng triệu cơ hội; người đó chỉ cần cho phép.
Bạn không thể thấy cây cối đang bắt rễ vào đất đó sao? Chúng không thể đi đâu cả, và vậy mà chúng vẫn hạnh phúc. Chúng không thể săn đuổi hạnh phúc, chắc chắn; chúng không thể đi và kiếm hạnh phúc được. Chúng bắt rễ vào trong đất, chúng không thể di chuyển được, nhưng bạn không thể thấy niềm hạnh phúc sao? Bạn không thể thấy niềm vui của chúng khi trời mưa, sự mãn nguyện lớn lao của chúng khi gió thổi qua đây đó sao? Bạn không thể cảm thấy điệu vũ của chúng sao?… Chúng bắt rễ; chúng không đi đâu cả. Dầu vậy, cuộc sống vẫn tới cho chúng.
Tất cả đều tới – bạn chỉ tạo ra khả năng; tất cả đều tới – bạn chỉ cho phép nó. Cuộc sống sẵn sàng xảy ra cho bạn. Bạn đang tạo ra biết bao nhiêu rào chắn, và rào chắn lớn nhất mà bạn có thể tạo ra là việc săn đuổi. Bởi vì việc săn và đuổi của bạn, bất kì khi nào cuộc sống tới và gõ cửa nhà bạn, cuộc sống chẳng bao giờ tìm thấy bạn ở đó. Bạn bao giờ cũng ở chỗ nào đó khác. Bạn cứ săn đuổi cuộc sống còn cuộc sống thì cứ săn đuổi bạn, và sự gặp gỡ chẳng bao giờ xảy ra.
Hiện hữu…chỉ hiện hữu, và chờ đợi, và kiên nhẫn.

Sống cho ngày hôm nay

Nhớ về quá khứ làm mình vui hay khổ cũng đều không tốt, bởi nó làm mình đánh mất mình của hôm nay, mình sẽ trở nên mất trí, bởi mình có biết gì ở hiện tại đâu? Tôi gặp những cụ già 60, 70 tuổi và thấy họ đãng trí, nhìn sâu tí nữa tôi thấy họ của ngày 50 đã bắt đầu nhớ da diết cái thời trẻ trai, đẹp tuyệt mà họ đã trải qua...
Tức nhiên, sống cho ngày hôm nay là không để mình lang thang về quá khứ và chạy tới tương lai xa mờ mịt. Nhưng, để sống được cho ngày hôm nay không phải là chuyện đơn giản mà hễ nói là làm được, và có thể làm được thường xuyên, bởi thói quen từ lâu, lâu lắm mình đã cứ mãi về quá khứ, tới tương lai!
1. Về quá khứ thông qua nhịp cầu của nhớ. Nhớ về những niềm vui đã qua, nỗi buồn dĩ vãng, biến những thứ ấy thành những cục, những hòn đặc quánh, lóng lánh, cứng ngắt trong tâm thức để khi vừa mở mắt ra mình đã chạm vào nó. Và tiếc nuối, và tức tối, và ước, và khao khát được như ngày xưa, và chợt buồn miên man…
Đau! Có người đã nhắn cho mình những cái tin bắt đầu như thế và sau đó là diễn dịch nỗi đau ấy chính là những điều vui vẻ của một thời nay xa vắng, sức khỏe không như ngày xưa, gia đình không còn ấm êm…
Nhớ về quá khứ làm mình vui hay khổ cũng đều không tốt, bởi nó làm mình đánh mất mình của hôm nay, mình sẽ trở nên mất trí, bởi mình có biết gì ở hiện tại đâu? Tôi gặp những cụ già 60, 70 tuổi và thấy họ đãng trí, nhìn sâu tí nữa tôi thấy họ của ngày 50 đã bắt đầu nhớ da diết cái thời trẻ trai, đẹp tuyệt mà họ đã trải qua. Nỗi nhớ dày vò, lặp đi, lặp lại từ ngày này sang ngày khác đến nỗi tới lúc nó “bùng phát” thành bệnh đãng trí. Đãng trí là nhớ có thể rất rõ về những sự kiện hoặc một vài con người của quá khứ, cứ kể đi, kể lại và cười như… trẻ thơ bé dại. Tất cả những vùng não của hiện tại đã “chết”, chỉ còn vùng não được in sâu ký ức là còn hoạt động nên… mọi sự mới ra như thế.
Còn tương lai thì được bắt nhịp bởi những ước vọng và cả khao khát bay xa, bay cao trong sự tính toán, dự định… của con người. Có những người “bay” về tương lai quá xa và quá cao mà thiếu cái gốc của hiện tại nên vỡ mộng, thất vọng, đôi khi sống ảo tưởng với chính mình và người. Những người ấy cũng dễ bị điên đảo, trở thành người hoang tưởng. Đó cũng là một thứ bệnh mà thời đại ngày nay người ta bị nhiều. Tính toán quá nhiều để rồi chính họ tạo ra những rủi ro, nhận lấy sự thất bại đến nỗi không thể chấp nhận được kết quả vì đã quá kỳ vọng mà không thành nên mới tự tử.
2. Có đôi khi, tôi ước rằng… giá như nhiều người trẻ biết học bài học hạnh phúc từ sự “thiểu dục tri túc” (ít muốn - biết đủ) thì có lẽ họ đã bớt chông chênh. Người trẻ muốn khẳng định mình, muốn làm giàu, muốn học thật nhiều để thành công thật lớn (đôi khi chỉ để chứng tỏ rằng mình có mấy bằng đại học chứ chưa chắc đã có đủ kỹ năng để làm việc, làm tốt chuyên môn)… Người trẻ cũng có mơ ước nhiều, muốn làm nhiều thứ…, điều đó tốt đó, nhưng tiếc là các bạn ấy lại chưa thật sự chuẩn bị chu đáo cho con đường mình đi.
Những giá trị về tình thương, hạnh phúc đôi khi các bạn đã quan niệm sai lầm. Như là, vật chất càng nhiều thì sẽ càng có hạnh phúc, bằng cấp càng cao thì càng có nhiều hạnh phúc… Đó là những quan niệm chưa đúng bởi hạnh phúc không phải tỉ lệ thuận với những điều đó, mà nó phải được xây dựng từ chất liệu của hiểu biết đúng đắn về mọi thứ xung quanh, bản thân mình. Vật chất, bằng cấp… thực tế chỉ là điều kiện để có hạnh phúc, bên cạnh đó còn là những nguyên tắc sống, ứng dụng những cái đó vào cuộc sống để vun vén hạnh phúc thật sự là sự bình an trong tâm hồn!
3. Nếu người ta hiểu được rằng: Hạnh phúc là mình sống trọn vẹn ngày hôm nay, làm hết mình những điều mình có thể làm, nói một lời, làm một việc mà những người thân-thương mình có hạnh phúc… thì có lẽ sẽ hay hơn, sẽ làm cho họ có nhiều bình an hơn. Nếu nhặt được từ cuộc sống hằng ngày những hạnh phúc như thế thì rồi người ta cũng sẽ có cả một lâu đài chứa toàn hạnh phúc. Tiếc là người ta cứ xây hạnh phúc trên không khí, thiếu nền móng vững chắc của những giá trị thương yêu bản thân mình một cách đúng đắn, thương yêu người thân-thương và những người xung quanh một cách chân thành, giảm thiểu những nhu cầu vật chất để chăm sóc tâm hồn mình vững chãi hơn, sống chậm lại một chút để cảm những âm thanh đa sắc của cuộc đời…
Bạn trẻ bây giờ sống nhanh quá, cứ lao đi như một cơn lốc với quá nhiều mục tiêu phải đạt được trong một thời gian càng ngắn càng tốt. Khi mà trái non chưa kịp chín thì người ta đã ép cho nó chín vội vàng thì làm sao trái ấy có thể ngon và lâu cho được?
Nghĩ suy tất cả những điều đó trong thế giới quan của đạo Phật để rồi cứ vấn vương mãi một điều mà những nhà tâm lý, giáo dục, xã hội vẫn thường đau đáu: Giới trẻ bây giờ vô cảm, thích hưởng thụ, yêu cuồng sống vội… Vấn vương và nhận ra rằng: Hóa ra người trẻ vốn là “nạn nhân” của môi trường sống mà họ sinh ra, giữa thời điểm mà cơn lốc của vật chất, của những sự tranh đua quyền lực, danh vọng… trở thành sự thèm khát vô biên; ngay cả người lớn còn chênh vênh, còn lạc lối và kéo người trẻ vào vòng xoáy ấy thì làm sao họ có thể thoát “lưỡi hái” của khổ đau?
Tất nhiên, nhận diện điều đó không có nghĩa là để mình thất vọng thêm nữa, buồn lụy thêm nữa mà phải “thắp đuốc lên mà đi”. Hãy bắt đầu bằng việc thực tập sống có ý thức cho ngày hôm nay. Niệm niệm rằng “sống cho ngày hôm nay”, để vừa mở mắt chào ngày mới bạn có thể nở một nụ cười chứ đừng vội lao vào máy vi tính hoặc điện thoại để tiếp tục “cày” với dự án này, kế hoạch nọ, để truyền thông với ai đó bằng e-mail, cuộc gọi, tin nhắn… Hãy truyền thông với chính mình bằng một nụ cười, bằng thi kệ rất dễ thương: “Xin nguyện sống trọn vẹn/ Mắt thương nhìn cuộc đời”. Rồi trong mỗi việc diễn ra xung quanh mình, hãy đừng vội kết luận, phán xét, phản ứng, sợ hãi… mà hãy từ tốn xem nó từ đâu tới, rồi cứ nhìn nó, chào nó bằng đôi mắt thương yêu chứa đầy chất liệu của hiểu biết, bởi trước đó mình đã có cơ hội dừng lại để lắng nghe nó rồi.
Sống cho ngày hôm nay, là sống có ý thức cho những gì đang diễn ra, nếu có nhớ quá khứ hay chạy về tương lai cũng phải biết rõ là mình đang nhớ, đang nghĩ tới tương lai; biết để quay về, để biết hiện tại mình đang là ai, mình đang có gì nhằm tránh hoang tưởng và không mông lung…

Disqus Shortname

Ads Inside Post

Comments system

Hey, we've just launched a new custom color Blogger template. You'll like it - https://t.co/quGl87I2PZ
Join Our Newsletter